Posted on

Chương Trình Nghiên Cứu Đèn Đánh Bắt Hải Sản

PHÁT TRIỂN ĐÈN ĐÁNH BẮT HẢI SẢN

TẠI SAO CHỌN ĐÁNH BẮT XA BỜ ?
– Nguồn lợi thủy sản xa bờ lớn hơn về số lượng và chất lượng. Xem các tài liệu về đánh giá tiềm năng thủy sản biển Việt nam.
– Các yếu tố vật lý biển ổn định hơn, các yếu tố Sol khí trên mặt biển ổn định hơn .
– Khái niệm xa bờ : Theo viện hải dương: Vịnh bắc bộ, miền đông Nam Bộ, Miền Tây Nam Bộ. là ngoài mức sâu 30m. Miền nam trung bộ, ngoài mức sâu 50m. Thuyền đánh bắt xa bờ quy dịnh lớn hơn 90CV. Trên thực tế thuyền đánh bắt xa bờ thừng có công suất >400CV -1000CV. Kích thước 6x(20-26 )x3.5m(Rộng ,dài ,sâu ) tải trọng gần( 60 -80)tấn. Tàu vỏ gỗ tốc độ 10-15 hải lý/h.
– Các tàu đánh bắt a bờ đầu tư 6-10 tỷ – có trang bị hệ thống vô tuyến Icom và máy dò cá.
PHÂN TÍCH CHIẾU SÁNG DẪN DỤ CÁ HIỆN NAY:
– Ngư cụ chủ yếu lưới vây và lưới chụp 4 tangon (sào).
-Cho tàu lưới chụp:
image002
– Cho tàu lưới vây:

hinh-2

– Tàu Trung Quốc:

hinh-3

Đánh giá:
Loại đèn: Metalhalide 1000w được sử dụng chủ yếu, khoảng 20-40 đèn tùy loại tàu.
Ưu điểm: Dễ sử dụng, dễ sửa chữa và thay thế. Giá khoảng 3000 000 (VNĐ)
Quang thông: 100 000 -120 000 lumen phân đều mọi hướng, không che chụp.
Phân thành 2 dãy xung quanh cabin hoặc 1 dãy ở giữa tàu.
Ở xa có thể coi như một điện nguồn có công suất lớn N*1000(W) = 40(kW) tương đương 10(kW) ánh sáng (25%).
*Sự thông minh của ngư dân cần lý giải bằng khoa học:
1- Chiếu lên trời: Phần lớn ánh sáng chiếu lên không trung trên mực nước biển người ta không che chắn chóa phản xạ xuống biển. Điều này làm cho phạm vi cá nhận biết ánh sáng rộng hơn và hiệu quả đánh bắt tăng lên. Điều này được giải thích như sau: Trên mực nước biển chiều dày quang học (sol khí) tùy thời tiết, tốc độ gió, nhiệt độ nước biện. Trong chiều dày này ngoài không khí còn có nhiều loại hạt nước nhỏ (miss, fogs ), các phần tử muối, hơi nước, tất cả có tác dụng phản xạ và tán xạ ánh sáng ngược xuống mặt biển ở góc chiếu nhỏ nhiều so với ánh sáng trực tiếp chiếu từ đèn ở xa hàng trăm mét. Để kiểm nghiệm điều này phải nghiên cứu ngay trên biển bằng các thiết bị đo ánh sáng có độ nhạy cao 0.01lux.
2 – Ngày không đánh cá: Có một vài kiểu đánh cá (đặc biệt là lưới chụp) phụ thuộc lớn vào đèn dụ cá thì ngưng đánh cá hẳn vì đèn không còn tác dụng. Điều này chứng tỏ với độ sáng 0.1lux phổ ánh sáng tự nhiên sẽ thu hút được cá (phần lớn ở độ sâu 30 met). Điều này giúp chúng để xác định phạm vi dụ cá theo độ sáng tối thiêu.
3- Độ sáng tối đa mà cá không ưa: Khoảng 100lux thực tế khảo nghiệm cho thấy cá ở xung quanh vùng sáng cách tàu 20-30m nếu mở hết 20 bóng 1000W. Dùng máy dò ngang thấy rõ điều này. Điều này cho ta thấy ánh sáng quá mạnh ở xung quanh thuyền là không cần thiết. Phải tìm cách hướng sáng ra xa.
GIẢI PHÁP TIẾT KI ỆM
1- C ác giải pháp hiện nay :
Hiện nay kiểu đánh cá kết hợp ánh sáng ở Việt Nam rất phổ biến do loại hình đánh bắt và quy mô nhỏ. Nước ngoài không quan tâm lắm với kiểu đánh bắt của việt Nam. Bởi vậy các trang bị chiếu sáng chuyên dụng nhập khẩu không có. Các Nhà sản xuất đèn trong nước đưa ra nhiều giải pháp LED hàng chục năm nhưng chưa có kết quả thuyết phục. Đầu tiên là Tập đoàn Kim Đỉnh thử nghiệm 3 tàu. Phú Yên nghiên cứu cho đánh bắt cá ngừ Đại Dương, Công ty Bóng đèn Rạng Đông, và gần đây chương trình chiếu sáng tàu đánh bắt xa bờ Quảng trị đầu tư 4.7 triệu USD cho 72 tàu. Và còn nhiều đơn vị nhỏ vào cuộc tìm chìa khóa vàng cho ngư dân. Kết quả chưa thuyết phục vì sao ? Vì đặc điểm chung các dự án thử nghiệm như sau:
+ Cách tiếp cận dựa vào quan điểm đèn led tiết kiệm điện chung chung. Phần nhiều cho rằng tiết kiệm 70-80%. Đèn LED 200(W) thay bóng Metalhalide 1000(W) tạo ra một độ sáng tương đương. Điều này là không đủ cơ sở. Về hiệu suất phát quang thì LED công suất nhỏ có tới 150lumen/W. LED công suất lớn (LED mảng ) thì hiệu suất 60-100 lumen/W. Trong khi đèn Metalhalide MH có hiệu suất phát quang 110-120lumen/W. Cũng có quan điểm cho rằng góc chiếu của LED 120o nên chiếu vào vùng cần thiết và tiết kiệm ở chỗ không tốn năng lượng ánh sáng chiếu lên trời, góc khối chiếu đèn metal halide là 4π còn góc của đèn LED là 1π tiết kiệm được 75%. Điều này càng không đúng, vì như phân tích về phạm vi thu hút cá ở trên thì phần ánh sáng chiếu lên rất quan trọng. và nếu vậy ngư dân chỉ việc lắp chao phản quang vào đèn MH và rút bớt 80% đèn là được rồi.

hinhv4

Phổ của đèn LED trắng trên màu xanh có khá hơn đèn MH, nhưng không thể bằng tổng ánh sáng màu xanh có trong đèn MH (tính theo năng lượng bức xạ ,1W =685 lm ợ 555nm)

hinh-5

+ Cách đối ứng xác định hiệu quả chiếu sang bằng đèn LED không xác thực. Người ta trang bị một lượng đèn theo chủ quan như trình bày ở trên và chờ một vài chuyến đi biển về – thông qua năng suất, nếu bình thường như chuyến cũ vậy là hiệu quả nhờ tiết kiệm dầu. Nhưng về lâu dài ngư dân nhận ra hiệu quả không thuyết phục hoặc nhầm lẫn. Thực ra năng suất một chuyến đi phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Với trình độ dự báo ngư trường, khả năng dự đoán của ngư dân, thiết bị dò tìm, thời tiết, biến đổi hải lưu .v.v và may mắn. Riêng lưới vây xa bờ nhờ thiết bị dò cá với ngư cụ tốt họ bủa lưới đánh cả ban ngày. Việc xác định hiệu quả đánh bắt nhờ đèn LED vì vậy trở nên không rõ ràng và chưa thuyết phục .
+ Giá thành và các lỗi kỹ thuật: Với cách tính như trên mỗi thuyền trang bị hàng tỷ đồng cho chiếu sáng LED, ngày nay giá giảm xuông khoảng 500 triệu đồng cho một thyền như vậy. Khoảng 60*150w =9Kw, Thực ra không phải là đắt nếu nó thực sự hiệu quả tương đương với giàn đèn 40kw metalhalide. Nhưng nó không phải dễ dàng khi hiệu quả không rõ ràng. Vấn đề thiết bị điện tử trong môi trường biển là hết sức khó khăn xử lý để đảm bảo tin cậy và bền vững. Xử lý nhiễu điện từ không ảnh hưởng tới các thiết bị điện tử khác trên tàu cá như ICOM ,FINDER chưa đồng bộ trong quá trình thử nghiệm là vấn đề cần quan tâm. Đèn LED cho các dự án trên chủ yếu dùng các modul LED công suất nhỏ giải nhiệt bằng không khí Có IP lớn nên kích thước trọng lượng lớn. Khi lắp lên đủ sẽ chiếm nhiều không gian hạn chế khả năng thao tác vận hành các thiết bị đánh bắt như cần cẩu, tangon .v.v.

2- Giải pháp của chúng tôi :
-Tham khảo các kết quả nghiên cứu về vật lý biển. nhất là quang học biển.

hinh-6

-Tham khảo các kết quả nghiên cứu về tán xạ và khí quyển, nhất là sol khí (aerosol) trên mặt biển (level sea) ..

hinh-7 hinh-8 hinh-9

Và tán xạ
– Tham khảo kết quả nghiên cứu về mắt cá, nhất là độ nhạy mắt cá ở bước sóng ánh sáng 500nm.
Các giải pháp được lựa chọn như sau:
A – Phổ ánh sáng: Màu xanh từ 460-500nm là ánh sáng đầu tiên cá cảm nhận được và có hành vi hướng sáng. Vì đó là phổ ánh sáng ít bị hấp thụ và đi xa trong nước biển. Trên mặt biển phổ ánh sáng đó ít bị hấp thụ và tán xạ,khuyếch tán xuống biển gấp nhiều lần các ánh sáng có bước sóng lớn hơn. Cơ sở khoa học tiết kiệm là không cần phát ra ánh sáng ngoài giải ánh sáng có bước sóng nêu trên. Dĩ nhiên đối với biển gần bờ thì đặc tính vật lý biển khác đi bước sóng ánh sáng cũng thay đổi theo khoảng 550nm.
B – Loại đèn: Quan điểm của chúng tôi đèn nào tạo ra ánh sáng có phổ hẹp và màu mong muốn với giá thành rẻ, tiện dụng đều được quan tâm nghiên cứu đưa vào sử dụng cho việc dẫn dụ cá.
Đèn cao áp Metalhalide cũng có loại có độ màu 20000oK và 25000oK đều có thể áp dụng tốt .Nhưng phần tia tử ngoại vẫn còn nhiều: không chiếu trực tiếp lên tàu nhưng vào người lao động gây ảnh hưởng nhiều tới người như: bạc tóc, ưng thư da .v.v.
Đèn LED blue bước song 465nm giải nhiệt bằng nước, chịu mặn. không có thành phần tia tử ngoại( Tốt cho sức khỏe ngư dân).
Cách quy đổi tương đương đèn metahalide thông thường: Nguyên tắc tương đương về năng lượng ánh sáng trong khoảng phổ màu xanh (không tính theo lumen).
Trong phổ đèn metalhalide thông thường: 20% ánh sáng trong khỏang phổ 450-500nm
Phổ đèn metalhalide 25 000oK 70% ánh sáng trong khoảng phổ 450-500nm
Đèn LED blue 100% ánh sáng trong khoảng phổ 465-480nm
Vì vậy sử dụng bóng 3x250w MH 25 000oK thay cho 2x1000w MH thông thường.(trắng)
Dùng Đèn LED 200W tương đương 1000W đèn MH trắng. Chú ý chiếu ngang, không quan tâm nhiều đến góc chiếu 120o của LED.
C – Khảo nghiệm và đối ứng:
Trang bị hệ thống đèn tương đương trên cùng 1 tàu đánh bắt có điều khiển riêng .
Yêu cầu tàu có máy dò cá (tốt nhất máy dò ngang.) tầm 3000m.
– vị trí 1 vận hành xen kẽ từng mẻ đánh bắt: Đèn cũ trước đèn thử nghiệm sau, ghi nhận hiệu ứng thu hút cá qua máy dò cá, ghi nhận kết quả đánh bắt mẻ cá.
– Vị trí 2 vận hành xen kẽ từng mẻ đánh bắt: Đèn thử nghiệm trước đèn cũ sau, ghi nhận hiệu ứng thu hút cá qua máy dò cá, ghi nhận kết quả đánh bắt mẻ cá.
Tuần tự như vậy, trong nhiều lần suốt chuyến đi và lấy kết quả đánh giá .
Nội dung đánh giá: Tốc độ tăng đàn mẻ cá, độ nổi của đàn cá qua máy dò cá, năng suất mẻ cá .
Ngoài ra còn kiểm chứng khả năng làm việc của đèn thử nghiệm về chịu độ xung động,ổ n định, mức độ ảnh hưởng thiết bị khác và nhiệt độ nếu là LED .
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
1- Thử nhgiệm đèn LED blue rên tàu lưới chụp 4 tangon:
– Tàu anh Dũng tại Tiến Thủy, Quỳnh Lưu Nghệ An(Bến Lạch Quèn).
Công suất 800CV kích thước 26*6.5*3.5 m tải trọng 80 tấn có máy dò cá . Ngư trường Vịnh Bắc Bộ. Thời gian đi 15 ngày
-Thử nghiệm: Đèn LED blue công suất 4*2000(W). Cách lắp đặt và bố trí đèn cùng với đèn cũ. Vận hành xen kẽ như trên. kết quả khảo nghiệm cho thấy :
– Tốc độ tăng mật độ cá nhanh . trung bình 200kg/mẻ năng suất tương đương dùng đèn cũ .
– Tầm cá nổi hơn khoảng 5-10m khi dùng LED, 15-20m khi dùngđèn Metalhalide.
– Ánh sáng dịu vì màu xanh không tạo hiệu ứng ánh sáng mạnh đối với cảm nhận mắt người.(độ nhậy với mắt còn 0.14)
– Giải nhiệt bằng nước biển trích từ hệ thống làm mát máy phát điện rất tốt . hệ thống gọn nhẹ 10kg /đèn KT 1000*200 *150 mm
Tồn tại thử nghiệm: Thiết bị thử nghiệm chưa đầy đủ thiết bị chống nhiễu điện từ, chưa chống ẩm phần nguồn DC.

2- Hướng thử nghiệm tiếp theo :
Tiếp theo chúng tôi sẽ thử nghiệm đèn MH 25 000oK. đèn này làm giảm công suất đáng kể giá thành tương đương hệ thống đèn cũ, dễ vận hành, nhược điểm đáng ngại nhất là vẫn còn tia tử ngoại .
Cách khảo nghiệm cũng tiến hành như đèn LED, và sẽ công bố chi tiết hơn.
3- Chương trình sản xuất và xúc tiến thương mại:
– Các địa chỉ lắp đặt khảo nghiệm có khuyến mãi quảng cáo:
+ Vũng tàu: 2 tàu, mỗi tàu 8 kw công suất chiếu sáng .
+ Trần Đề Sóc Trăng: 2 tàu, mỗi tàu 8 kw công suất chiếu sáng
+ Phú Yên 2 tàu mỗi tàu 4kw công suất chiếu sáng
– Thời gian khảo nghiệm 01 chuyến. Chính thức vận hành thương thảo bàn giao và thanh toán dần theo khả năng tiết kiệm nhiên liệu. chiết khấu kết quả quảng cáo theo các hợp đồng do tàu khảo nghiệm giới thiệu .
– Các tàu có nhu cầu sẽ đặt hàng theo giá thỏa thuận .
– Thời gian bảo hành: 2 năm. Có cấp phụ tùng dự phòng.
4 – Nghiên cứu giải pháp kết hợp ánh sáng và máy dò ngang .
– Khảo sát mô tả đánh bắt có máy dò ngang, không kết hợp ánh sáng.
– Thiết kế giải pháp chiếu sáng xa đơn hướng dụ cá và giữ đàn cá trong qúa trình đánh bắt khi phát hiện đàn cá bằng máy dò ngang. Theo dõi và ghi nhận các hiệu ứng ánh ánh sáng với đàn cá.

Posted on

Một số nghề khai thác thủy sản kết hợp với ánh sáng

(Thủy sản Việt Nam) – Khai thác thủy sản kết hợp với ánh sáng vốn là mô hình rất hiệu quả bởi vốn đầu tư thấp, dễ áp dụng, có thể đạt được sản lượng cao và rất cơ động.
Nghề lưới vây
Chuẩn bị: Nghề lưới vây kết hợp tàu cá thì ngoài tàu, vàng lưới vây, các trang bị phụ trợ khác thì còn cần phải có máy phát điện thường 10 – 15 KW, hệ thống chiếu sáng và bảng phân phối điện đủ thắp sáng khoảng 150 bóng đèn neon loại 1,2 m và 5 – 10 bóng đèn cao áp thủy ngân loại 250 – 500 W.
Kỹ thuật khai thác: Trong khai thác lưới vây kết hợp ánh sáng, để đạt được hiệu quả nhất là chọn đúng nơi thắp đèn và thời gian thắp đèn. Lựa chọn nơi thắp đèn có nhiều cá, tôm… Dòng chảy nhẹ, tàu ít lắc và trôi dạt (có thể dùng neo để cố định tàu lại). Ít chướng ngại vật dưới nền đáy (nếu khai thác ở vùng biển cạn) và không bị ảnh hưởng bởi tàu bè đi lại. Thời gian thắp đèn cũng là thời gian lôi cuốn cá đến vùng sáng, thường 3 – 6 giờ (từ lúc chập tối đến khuya). Khi thấy cá đã tập trung nhiều vào vùng chiếu sáng hoặc cá đang trong tình trạng say đèn thì có thể tiến hành bủa lưới đánh bắt.
Thả lưới: Trước khi thả lưới phải tắt tất cả hệ thống đèn chiếu sáng trên tàu, chỉ để lại đèn ở bè đèn. Tiếp đến thu neo, đồng thời nới dài dây bè đèn cách tàu với khoảng cách bằng bán kính quay trở của tàu, cá sẽ tự động tập trung lại bè đèn. Sau đó, cho tàu chạy vòng tròn với bán kính quay trở thích hợp với chiều dài sẵn có của vàng lưới vây trên tàu. Thời gian thả lưới phải nhanh và tránh tác động đến đàn cá. Sau khi thả lưới xong thì tiến hành thu lưới, bắt cá nhanh.
Công việc thu lưới và bắt cá cũng tương tự như lưới vây thông thường. Khi bắt đầu thu cá thì kéo bè đèn lại và đem lên tàu, sau đó mới thu lưới.

anh 1

Hệ thống khai thác lưới vó mạn tàu kết hợp ánh sáng
Chuẩn bị mẻ tiếp theo: Công việc khai thác mẻ tiếp theo cũng có các bước tương tự như mẻ trước. Địa điểm khai thác có thể thực hiện tại vị trí trước hoặc chuyển đến địa điểm mới, tùy thuộc vào sản lượng khai thác của mẻ trước, hoặc là tình hình sóng gió, thời tiết.
Nghề khai thác lưới vây kết hợp ánh sáng còn có thể kết hợp khai thác giữa 1 tàu mẹ và 1 – 2 tàu con. Tàu con làm nhiệm vụ chong đèn ở khu vực gần tàu mẹ, và chong đèn sau tàu mẹ khoảng 30 phút. Khi tàu mẹ khai thác của phần của mình sẽ chạy đến bủa lưới quanh tàu con. Sau khi tàu mẹ bủa lưới xong, tàu con nhanh chóng rời khỏi khu vực bao vây để tàu mẹ tiến hành thu lưới bắt cá.

Nghề câu mực
Chuẩn bị: Bộ phận chính của câu mực là ống câu, dây câu và đèn thắp sáng để lôi cuốn mực đến vùng sáng. Dây câu bằng cước, dài 20 – 30 m, đường kính 1 – 1,2 mm. Mỗi dây câu có thể buộc 1 – 3 lưỡi câu, cách nhau 2 – 3 m, có thể buộc kết hợp thêm với các chùm vải kim tuyến. Lưỡi câu mực thường là loại lưỡi kép, sắc, dễ móc vào đầu hoặc thân mực khi giật dây câu. Nếu câu riêng rẽ trên các thúng thường dùng nguồn sáng là đèn măng – sông hoặc từ ánh sáng điện nếu câu tập thể trên tàu thuyền lớn.
Vợt xúc mực làm bằng lưới cước, có cán dài 50 – 100 cm. Độ sâu túi vợt khoảng 100 – 150 cm, đủ để giữ không cho mực thoát trở ra miệng lưới.
Kỹ thuật câu: Lựa chọn ngư trường khai thác có nền đáy cát pha vỏ nhuyễn thể. Nơi có nhiều nguồn thức ăn cho mực. Độ sâu mực nước 10 – 25 m, độ trong 1 – 2 m, có dòng chảy nhẹ.
Thắp đèn trước khi câu ít nhất 15 phút để mực tập trung vào vùng phát sáng. Khi thấy mực tập trung khá nhiều, tiến hành thả câu. Có thể câu mực bằng mồi câu hoặc không sử dụng mồi câu. Mồi câu có thể là các loại cá chết, mực, rắn… dạng còn tươi. Móc mồi vào lưỡi câu, rồi thả xuống đến sát nền đáy. Sau đó, một tay vừa thu dây câu, một tay kia giật lên, giật xuống để thu hút sự chú ý của mực, mực sẽ bám theo mồi để ăn và bị vướng lưỡi câu. Nếu câu mực không cần mồi thì buộc các chùm vải kim tuyến gần các lưỡi câu. Tiếp đó, thả dây câu, ta vừa thu dây, vừa di động dây lên, xuống. Mực sẽ tập trung vào vải kim tuyến và bị mắc vào lưỡi câu. Nếu không có lưỡi, mực sẽ tiếp tục đeo bám dần lên tới mặt nước, khi này ta nhanh chóng dùng vợt để xúc mực.
Chú ý, khi xúc mực phải xúc từ đuôi, bởi vì khi mực phát hiện ra nguy cơ bị bắt, chúng sẽ lùi mạnh ra sau và bị lọt vào túi vợt.

anh 2

                 Hệ thống chiếu sáng trên tàu lưới vây kết hợp ánh sáng

Nghề lưới đăng
Chuẩn bị: Trước tiên cần lắp đặt chuồng lưới đăng, tương tự khai thác lưới đăng thông thường, chuồng lưới đăng kết hợp ánh sáng phải được đặt ở những nơi có nhiều cá qua lại, thuận lợi cho việc khai thác, bố trí các trang thiết bị và không gây cản trở cho các phương tiện đi lại khác.
Sử dụng 8 – 10 xuồng đèn, mỗi xuồng có lắp đặt các đèn khí hoặc đèn điện 1 chiều và phải có tàu làm phương tiện vận chuyển cá và là nơi ăn ở tạm thời của ngư dân.
Kỹ thuật khai thác: Trước hết, cho các xuồng đèn làm việc, thắp sáng gần xung quanh khu vực đặt chuồng lưới đăng. Sau 1 – 3 giờ, mật độ cá tập trung tương đối cao quanh xuồng đèn thì cho các xuồng đèn di chuyển chậm vào khu vực cửa chuồng. Tiếp đến, tắt tất cả đèn, chỉ để lại 1 đèn duy nhất, sau đó đưa xuồng có đèn sáng đi vào cửa chuồng, rồi đóng cửa chuồng lại, tiến hành giở tấm lưới đáy chuồng, dồn cá về một góc, rồi bắt cá.
Khai thác lưới đăng kết hợp ánh sáng bằng cách dùng máy phát điện 110V để thắp một tuyến sáng từ chuồng ra ngoài khu vực xung quanh. Đèn được thả ngầm xuống nước ở độ sâu khoảng 1,5 m. Khi cá tập trung tương đối nhiều ở quanh các đèn, thì điều khiển hệ thống chiếu sáng sao cho tắt lần lượt các đèn từ xa trước, cá sẽ gom lại đèn kế bên, gần cửa chuồng hơn. Tiếp tục làm như thế cá sẽ tự động gom về cửa chuồng. Khi cá đã đến cửa chuồng, tắt nốt đèn cửa chuồng, cá sẽ đi vào đèn đã bố trí trong chuồng. Tiếp đó đóng cửa chuồng và thu bắt cá.

Nghề vó
Chuẩn bị: Trên tàu khai thác lưới vó kết hợp ánh sáng thường có trang bị 1 – 2 vàng lưới vó, máy phát điện, hệ thống chiếu sáng, bảng điều khiển hệ thống điện, tời nâng hạ lưới vó… Hệ thống đèn pha có công suất 500 – 1.500 W, dùng để dò tìm, phát hiện ra khu vực có cá. Hệ thống đèn xanh có công suất 500 W, tạo thành từng cụm, được dùng để lôi cuốn cá đến vùng sáng. Hệ thống đèn đỏ để tập trung cá đến chỗ đặt lưới.
Lưới vó mạn tàu có cấu tạo dạng hình chữ nhật. Chiều dài giềng trên và giềng dưới bằng nhau. Giềng trên được lắp ráp với sào nổi bằng tre, có chiều dài 8 – 15 m, giúp giềng nổi lên trên mặt nước.
Để định hình miệng lưới, lắp 2 sào chống có chiều dài 8 – 12 m, một đầu buộc chặt vào sào nổi, một đầu gắn với thân tàu. Giềng dưới của vó mạn tàu được lắp khoảng 90 viên chì nhỏ, trọng lượng 15 g/viên và 5 – 6 viên chì lớn, trọng lượng 25 g/viên vào những chỗ có dây kéo thu giềng dưới. Ở 2 giềng hông được lắp các vòng khuyên. Dây cáp rút được luồng qua hệ thống vòng khuyên để giúp thu lưới được dễ dàng.

Posted on

Đánh giá về tiềm năng của nghành thủy sản –những lợi thế và khó khăn

Tiềm năng và ưu thế
Việt nam là đất nước nằm trong bán đảo Trung ấn , đựơc thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghành thuỷ sản. Với bờ biển dài hơn 3200 km trải dài suốt 13 vĩ độ Bắc Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về các vùng khí hậu ,thời tiết ,chế độ thuỷ học ….Ven bờ có nhiều đảo ,vùng vịnh và hàng vạn hécta đầm phá , ao hồ sông ngòi nội địa ,thêm vào đó lại có ưu thế về vị trí nằm ở nơi giao lưu của các ngư trường chính , đây là khu vực được đánh giá là có trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại và nhiều đặc sản quí . Việt nam có thế mạnh về khai thác và nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 vùng nước mặn, ngọt ,lợ. Khu vực đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2 thuộc 4 khu vực được phân chia rõ ràng về mặt thuỷ văn đó là: Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, khu vực biển miền Trung, khu vực biển Đông Nam và vùng Vịnh Tây Nam, hàng năm có thể khai thác 1,2 –1,4 triệu tấn hải sản ,có độ sâu cho phép khai thác ở nhiều tầng nước khác nhau. ở vùng vịnh Bắc bộ và Tây nam bộ có độ sâu phân bố giống nhau với 50% diện tích sâu dưới 50m nước và độ sâu lớn nhất không quá 100m . Biển Đông nam bộ ,độ sâu từ 30-60m chiếm tới 3/4diện tích , độ sâu tối đa ở khu vực này là 300m .Biển miền Trung có độ sâu lớn nhất ,mực nuớc 30-50m ,100m chỉ cách bờ biển có 3- 10 hải lý, độ sâu từ 200-500m chỉ cách bờ 20-40 hải lý ,vúng sâu nhất đạt tới 4000-5000m.
Nhờ có những nét đặc trưng như vậy mà nghề thuỷ sản Việt Nam gồm cả đánh bắt và nuôi trồng đã tồn tại và phát triển từ lâu đời,đến nay đã trải qua nhiều thăng trầm .Một trong những bước quan trọng đánh dấu quá trình chuyển biến nhằm đạt được hiệu quả kinh tế ngày càng cao góp phần thúc đẩy sự tiến bộ chung trên phương diện kinh tế cả nước của nghành thuỷ sản .Đó là từ năm 1981 đến nay nghành thuỷ sản luôn hoàn thành kế hoạch nhà nước giao.Sản lượng năm 1998 gấp 4 lần sản lượng năm 1988, nộp ngân sách 723457 triệu đồng , cho đến nay nghành thuỷ sản đã phát triển mạnh mẽ ,có khả năng cạnh tranh với nhiều nước đứng đầu về xuất khẩu thuỷ sản,năm 2002kim ngạch xuất khẩu đạt 2 tỉ USD ,Việt nam được xếp vào top ten những nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới.Nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh và đạt kết quả khá cao , hình thành nên phong trào nuôi trồng rộng rãi trong nhân dân , phù hợp với yêu cầu của thị trường và điều kiện nuôi . Đa số các hộ nuôi đêù có lãi ,tạo được việc làm cho người lao động .Diện tích nuôi quảng canh cải tiến và thâm canh đang được mở rộng , hàng chục ngàn hecta đất ven biển dùng để trồng hoa màu không đạt hiệu quả cao đều được người dân tự nguyện chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản . Việc nuôi trồng không chỉ hạn chế trong 1 số giống , ngoài việc nuôi tôm phát triển ,các nghề nuôi thuỷ đặc sản như các loại cá có giá trị xuất khẩu cao ví dụ như cá Ba sa ,Bống tượng , tôm hùm ,ba ba .Biện pháp nuôi trong lồng ngày càng phổ biến. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản nay khoảng 600.000 hecta trong đó 260000ha là các ao hồ nước lợ được sử dụng cho việc nuôi tôm ,340000 hecta còn lại bao gồm các vùng nước ngọt khác nhau đang được sử dụng cho nhiều hình thức nuôi cá, trong tương lai còn có thể mở rộng rất nhiều …
Bàn về vấn đề khai thác hải sản ,có thể thấy rằng việc khai thác của nước ta còn có nhiều hạn chế ,chưa xứng đáng với tiềm năng thuỷ sản dồi dào mà thiên nhiên ban tặng . Tuy nhiên ngành thuỷ sản cũng đã có được những thành tựu đáng kể . Toàn ngành đã có 93500 tàu thuyền gồm tàu thuyền lắp máy : 62000 chiếc với tổng công suất 1.250.000 mã lực và 2700 chiếc đóng mới trong năm 1994 ,tàu đánh bắt xa bờ 100 chiếc với tổng công suất 50000 mã lực, 31500 tàu đánh bắt thủ công . Từ năm 1994 đến nay đội ngũ tàu thuyền đánh bắt đã có những điều chỉnh và cải biến rõ rệt ,chủ yếu tập trung đẩy mạnh phát triển đội tàu có khả năng đánh bắt xa bờ ,hạn chế việc đóng tàu có công suất nhỏ nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ven biển ,tổ chức lại hệ thống khai thác hải sản trong cả nước. Đánh bắt xa bờ là xu thế phát triển của thuỷ sản để tăng nhanh sản lượng ,đây cũng là chiến lược của ngành nhằm nâng cao khả năng tận dụng triệt để ưu thế về chủng loại …..
Đặc điểm nguồn lợi hải sản
Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh tế. Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển là 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương.
Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 – 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 – 70 nghìn tấn/năm); hằng năm có thể khai thác từ 45 á 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ v.v… Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v… Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nước ta có thành phần loài đa dạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao. Chế độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dương học, làm cho sự phân bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đàn nhỏ. Tỷ lệ đàn cá nhỏ có kích thước dưới 5 x 20m chiếm tới 82% số đàn cá, các đàn vừa (10 x 20m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50m trở lên) chỉ chiếm 0,7% và các đàn rất lớn (20 x 500m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá. Số đàn cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mang tính đại dương chỉ chiếm 32%. Phân bố trữ lượng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùng biển có độ sâu dưới 50m (56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 – 100m (23,4%). Theo số liệu thống kê, khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam bao gồm cả cá nổi và cá đáy ở khu vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn. Nếu kể cả các hải sản khác, sản lượng cho phép khai thác ổn định ở mức 700.000 tấn/năm, thấp hơn so với sản lượng đã khai thác ở khu vực này hằng năm trong một số năm qua. Trong khi đó, nguồn lợi vùng xa bờ còn lớn, chưa khai thác hết.Theo vùng và theo độ sâu, nguồn lợi cá cũng khác nhau. Vùng biển Đông Nam Bộ cho khả năng khai thác hải sản xa bờ lớn nhất, chiếm 49,7% khả năng khai thác cả nước, tiếp đó là Vịnh Bắc Bộ (16,0%), biển miền Trung (14,3%), Tây Nam Bộ (11,9%), các gò nổi (0,15%), cá nổi đại dương (7,1%), (xem BảNG 1, 2, 3, 4) , hơn nữa bờ biển nước ta còn có hệ sinh thái nhiệt đới đa dạng , giàu tài nguyên thiên nhiên như hệ sinh thái rừng ngập mặn ,rạn san hô, cỏ biển ,các vùng cửa sông châu thổ . Có thể nói đây là những ưu thế to lớn để phát triển nghề cá không thua kém bất kì 1 quốc gia naò trên thế giới …
Về ngư cụ đánh bắt : Các loại lưới kéo chiếm tỷ lệ lớn nhất (khoảng 31%), sau đến loại lưới rê trôi (21%), lưới vây là 8% và số còn lại là sử dụng các loại ngư cụ khác.
Số lượng thuỷ sản khai thác: Cá biển chiếm khoảng 65% tổng số sản phẩm cá của Việt Nam, 35% còn lại là cá nuôi và cá nước ngọt. Các nguồn lợi hải sản ở các vùng biển ven bờ với mức nước sâu dưới 50m đã được xem là khai thác cạn kiệt. Năm 2000, sản lượng đánh bắt xa bờ chiếm 35% tổng sản lượng đánh bắt. Theo tính toán, tiềm năng về nguồn lợi thuỷ sản ước tính khoảng trên 4,2 triệu tấn. Sản lượng khai thác bền vững ước tính là 1,7 triệu tấn/năm. Nguồn lợi hải sản chủ yếu là các loại cá có khả năng di chuyển nhanh, lưu trú ở vùng biển Việt Nam trong khoảng thời gian ngắn.
Theo số liệu thống kê, tổng sản lượng hải sản đánh bắt năm 2001 là 1,2 triệu tấn. Trong đó, 82% sản lượng hải sản đánh bắt được là các loại cá, số còn lại là cua, mực, tôm các loại và một số loại hải sản khác. Khoảng 60% sản lượng khai thác được phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước, 18% cho xuất khẩu và khoảng 20% cho các mục đích khác.
Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên,ngành thuỷ sản Việt nam còn có lợi thế về tiềm năng lao động và giá cả sức lao động .Lao động nghề cá Việt nam có số lượng dồi dào, thông minh ,khéo tay ,chăm chỉ ,có thể tiếp thu nhanh chóng và áp dụng sáng tạo công nghệ tiên tiến …. Ngoài ra nước ta còn có lợi thế của người đi sau : suất đầu tư và mức độ lệ thuộc vào công nghệ chưa cao nên có khả năng đầu tư những công nghệ hiện đại tiên tiến nhờ các tiến bộ nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ ,đặc biệt trong công nghệ khai thác biển xa,công nghệ sinh học phục vụ nuôi thuỷ sản nhất là nuôi cá biển và nuôi giáp xác ….
Thuận lợi về thị trường : Việt nam nằm cạnh Trung quốc một nước đông dân nhất trên thế giới : hơn 1,3 tỉ người ,đây là 1 thị trường đầy tiềm năng và tiêu thụ hải sản rất mạnh , hầu như từ trước đến nay Việt nam chưa từng thoả mãn được nhu cầu về hải sản của Trung quốc. Ngoài trung quốc ra còn có thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc cũng là 2 thị trường tiêu thụ rất mạnh các sản phẩm thuỷ sản của nước ta,vì vậy trong tương lai thuỷ sản Việt nam còn có tiềm năng mở rộng thị trường ,đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu ,vươn lên 1 tầm cao mới.
Bên cạnh đó, do nhận thức được vai trò của ngành thuỷ sản , đặc biệt là xuất khẩu thuỷ sản, phát triển kinh tế chung của đất nước , nhà nước ta đã và đang có những chính sách hỗ trợ cho ngành .Tại hội nghị triển khai thực hiện kế hoạch năm 2003 của bộ thuỷ sản ,Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng để thực hiện được mục tiêu phát triển, ngành thuỷ sản cần nhanh chóng rút kinh nghiệm và đổi mới ,những vấn đề gì bức bách các địa phương, các doanh nghiệp nên gửi ngay về bộ thuỷ sản. Vấn đề nào vượt quá thẩm quyền của bộ thì gửi lên chính phủ , chính phủ sẽ giải quyết ngay…….Trong công tác qui hoạch bộ cũng có những đề án phù hợp ..,Đây cũng là 1 thuận lợi lớn cho ngành thuỷ sản trong quá trình phát triển ….
Bảng 1. Tổng hợp kết quả đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá biển Việt Nam:  Tiềm năng và ưu thế
Những khó khăn còn tồn tại
Bên cạnh những thuận lợi kể trên , nhìn chung ngành thủy sản còn chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng phong phú của nó ,so với các nước còn thua kém về nhiều mặt . Chúng ta về cơ bản mới chỉ là đánh bắt cá ven bờ , cả trong khâu đánh bắt cũng như khâu chế biến còn rất thủ công ,chưa thực sự đẩy ngành thủy sản lên tầm vĩ mô ,mang tính công nghiệp cao ……
Xét về sản lượng, mức khai thác thấp hơn rất nhiều so với 1 số nước trong khu vực như : Philipin, Thái Lan ,Trung Quốc .Khai thác của ta còn chưa được hiện đại hóa ,thiếu khả năng vươn nhanh mnạh ra xa bờ . Hầu hết các tàu đánh bắt có công suất nhỏ ,năng suất thấp ,mới chỉ khai thác ở độ sâu dưới 50 m ,trong khi đó vùng biển của Việt nam trải dài , nhiều vùng có độ sâu lớn .Đây thực sự là 1 trong những hạn chế cản trở sự phát triển ,dẫn đến tình trạng lạm thác ở ven bờ trong khi nguồn lợi ở xa bờ lại chưa được sử dụng tới .
Nuôi trồng thủy sản vẫn chưa được qui hoạch , do không có kế hoạch tổng thể lâu dài và chỉ chú trọng mở rộng diện tích nên hiệu quả kinh tế không cao ,có nơi còn gây hậu quả xấu về môi trường sinh thái cũng như bảo vệ nguồn lợi .Việc nuôi trồng nhiều lúc còn tràn lan , thiếu tính khoa học nên chất lượng không cao ,hiện nay vẫn chưa tìm được hướng thích hợp để huy động vốn đầu tư cho phát triển ,đặc biệt là đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng .các chương trình nuôi trồng và khai thác nhiều khi chồng chéo nhau ,không nhất quán trong việc sử dụng đất ,mặt nước và tàu thuyền,đặc biệt là trong sử dụng vốn đầu tư .Đối với nghề khai thác hải sản ,ngư dân thiếu các thông tin về nguồn lợi ,trữ lượng hải sản , còn trong nuôi trồng ,ngư dân cũng không biết chắc là mình có làm đúng với qui hoạch sau này hay không ,cho dù có nơi họ “ làm bừa” phá tan cả dự kiến trong qui hoạch đang được xây dựng ( điển hình nhất là phong trào chuyển đổi đất từ trồng lúa sang nuôi tôm ).
Ngoài ra không thể không kể đến một nhân tố quan trọng còn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị thủy sản Việt nam đó là năng lực chế biến . Vấn đề đa dạng hóa ,nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã ..đang trở thành đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường ,đặc biệt là chất lượng chế biến . Có thể sản lượng đánh bắt khai thác rất lớn, song nếu trình độ chế biến và bảo quản không cao thì điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì cả, bởi thủylà mặt hàng tươi sống ,phải qua sơ chế nhiều khâu mới có thể xuất khẩu, đem lại giá trị kinh tế cao . Không phải ngẫu nhiên mà vấn đề chất lượng lại được đặt lên hàng đầu ,chẳng riêng gì hải sản , với mặt hàng nào cũng vậy ,các thị trường khó tính như EU, Hoa kì , Nhật bản đối với chất lượng sản phẩm đều có yêu cầu rất cao. Chẳng hạn như ở Anh, trước khi giao hàng phải được cơ quan bảo hiểm LLOYDS của London kiểm tra ,còn ở Mỹ ngày 24/1/1994 bộ trưởngy tế Mỹ còn công bố 1 đề xướng mới về an toàn thực phẩm rất quan trọng ,trong đó FDA sẽ đòi hỏi ngành chế biến thủy sản phải áp dụng chế độ kiểm tra an toàn theo nguyên tắc HACCP (hazard analyis critical control point ). Qua đó có thể thấy chất lượng thủy sản cũng như lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề sống còn…..
Các cơ sở sản xuất ở Việt nam đã cố gắng cải tạo điều kiện sản xuất ,coi trọng khâu vệ sinh công nghiệp ,hoàn thiện dần hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm ,đồng thời tạo thêm mặt hàng mới ,duy trì những mặt hàng truyền thống nhưng vẫn không thể tránh khỏi những khó khăn và tồn tại mà việc giải quyết những khó khăn và tồn tại này thực sự là vấn đề cấp bách để phát triển ngành thủy sản trong nước , thúc đẩy nền kinh tế nứơc nhà …Vậy những khó khăn đó là gì ? Nhìn trên tổng thể có thể thấy, kĩ thuật nuôi trồng của ta còn kém nên chất lượng không cao, trong khâu chế biến chưa thực sự đảm bảo yêu cầu về vệ sinh công nghiệp, công nghệ chế biến đơn điệu dẫn đến mặt hàng chế biến thủy sản còn nghèo nàn về chủng loại ,sức cạnh tranh trên thị trường yếu .Trong lĩnh vực chế biến XK nhiều tồn tại vẫn chưa được giải quyết, đặc biệt là vấn nạn sử dụng các chất kháng sinh và hóa chất bị cấm ,bơm chích tạp chất ,khiến cho hàng thủy sản xuất khẩu luôn bị cảnh báo. Một quan chức của bộ thủy sản nhận định rằng : để nâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiện mới yếu tố quan trọng nhất là chất lượng và an toàn vệ sinh thủy sản . Đây là vấn đề mà Việt nam còn “mắc “ cả ở khâu thực hiện và kiểm tra. Nếu không làm nhanh thì các đối thủ cạnh tranh sẽ đoạt được thị phần lớn trước …
Ngoài ra năng lực quản lý của doanh nghiệp và của nhà nước còn yếu kém ,không đáp ứng kịp vơí yêu cầu phát triển của nền sản xuất trong giai đoạn chuyển từ kinh tế thương mại đơn thuần sang kinh tế công nghiệp. Đội ngũ quản lý chậm được đổi mới và đào tạo lại nên không theo kịp được với yêu cầu mới của thời kì hội nhập và cạnh tranh.
Một khó khăn nữa của ngành thủy sản là vốn ,nhất là vốn lưu động và vốn đầu tư cho công nghệ . Bởi lẽ thủy sản là mặt hàng có gía trị cao nên vốn đầu tư lớn ,hầu hết sức đầu tư của ta còn nhỏ, lẻ, manh mún, không trường vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hệ thống kho bảo quản, làm lạnh ….. Chính vì thế mới có tình trạng hầu hết các xí nghiệp chế biến thủy sản ở nước ta chỉ làm gia công cho 1 số công ty lớn trong hoặc ngoài nước…
Nhìn chung ,trước mắt ,ngành thủy sản Việt nam còn có rất nhiều khó khăn và thử thách cần phải giải quyết ,nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản ,mở rộng thị trường, để cho ngành thủy sản thực sự xứng đáng với tiềm năng to lớn của nó ….

Posted on

Lý giải về màu sắc khác nhau của nước biển

Nước biển có nhiều màu sắc khác nhau phụ thuộc vào đặc tính vật lý và sinh học diễn ra tại đó.
· Nước biển có màu gì?

mau nuoc bien
Màu sắc khác nhau của nước biển, ngoài khơi bờ biển Tasmania. Ảnh: NASA
Màu sắc nước biển và đại dương có sự thay đổi rõ rệt theo thời gian và địa điểm, từ màu ngọc lam, xanh lá cây cho đến xanh dương, xanh hải quân, xám và nâu. Sự thay đổi này do quá trình thay đổi vật lý và sinh học tạo ra.
Đôi mắt người chứa các tế bào có khả năng phát hiện bức xạ điện từ ở khoảng bước sóng từ 380 đến 700 nanomet. Mỗi bước sóng tương ứng với một màu sắc khác nhau, tương tự như khi chúng ta quan sát cầu vồng.
Phân tử nước hấp thụ ánh sáng Mặt Trời tốt hơn ở những ánh sáng có bước sóng dài như đỏ, cam, vàng và xanh lá cây. Trong khi đó, màu xanh dương có bước sóng ngắn hơn nên ít bị nước hấp thụ. Vì vậy, nó thâm nhập xuống sâu hơn, làm cho những vùng nước sâu trông xanh hơn.
Ngoài ra, ánh sáng có bước sóng ngắn nhiều khả năng bị tán xạ hoặc phản xạ theo các hướng khác nhau từ nước biển tới mắt người quan sát, làm cho biển thường có màu xanh dương.
Cát và bùn có nguồn gốc từ sông đổ ra biển, hoặc từ đáy biển cũng ảnh hưởng đến màu sắc của vùng nước. Khi độ tinh khiết của nước biển thay đổi, các hạt lơ lửng trong nước làm gia tăng sự tán xạ ánh sáng, khiến nước biển trở thành màu xanh lá cây, vàng hoặc nâu.
Thực vật phù du cũng là nguyên nhân sinh học quan trọng hình thành nên màu sắc của nước biển. Chúng là những loại tảo đơn bào sử dụng sắc tố diệp lục để hấp thụ ánh sáng Mặt Trời, chuyển nước và carbon dioxide thành hợp chất hữu cơ cấu tạo nên cơ thể. Thông qua quá trình này, tảo đơn bào chịu trách nhiệm tạo ra khoảng một nửa lượng oxy mà chúng ta hít thở ngày nay.
“Thật hữu ích nếu có thể phân biệt các loại phù du thực vật khác nhau, vì mỗi loại trong số chúng có chức năng khác nhau trong hệ sinh thái, ” Venetia Stuart, điều phối viên khoa học tổ chức Màu Đại dương Quốc tế, thành viên của Ủy ban Quan sát Trái Đất (CEOS) nói. “Các vòng các-bon giúp xác định nồng độ khí CO2 trong tương lai, do đó, những thông tin đó có thể dùng trong xác định mô hình biến đổi khí hậu tương lai.”
Thực vật phù du hấp thụ bức xạ điện từ trong vùng quang phổ màu đỏ và màu xanh dương, đồng thời phản xạ ánh sáng màu xanh lá cây. Đây là lý do ở những vùng biển chúng phát triển mạnh, nước trông có màu xanh lá cây nhiều hơn.

Lê Hùng (Theo BBC)

Posted on

Công nghệ đánh bắt cá mang tính đột phá

Công nghệ đánh bắt cá mang tính cách mạng, vừa được tiết lộ, dự kiến sẽ thay đổi hoàn toàn cách đánh bắt cá hoang dã đã được thực hiện từ trước đến nay.

Công nghệ mới này, được gọi là Thu hoạch Thủy sản Chính xác (Precision Seafood Harvesting – PSH), sẽ cho phép toàn bộ cá đánh bắt được bơi thoải mái dưới nước bên trong một lưới PVC lớn linh hoạt, nơi nó có thể được phân loại chính xác loài và kích thước trước khi đưa lên trên boong tàu cá.

Danh ca

Công nghệ hiện đại trên là đầu tiên trên thế giới và là phát minh của Alistair Jerrett, từ Cơ quan Nghiên cứu thực vật và thực phẩm. Phát hiện này đã được công bố tại hội nghị hàng năm của Bộ Thủy sản Niu Di-lân tại Auckland vào ngày 1 tháng Mười.

Sự phát triển mang tính cách mạng này có thể được thực hiện nhờ có sự phối hợp hỗ trợ tài chính theo một chương trình Đối tác Phát triển Quan trọng của Sanford, Sealord và Aotearoa Fisheries, đã đầu tư tổng cộng 26 triệu NZD (21,5 triệu USD) cho dự án cũng như Chính phủ Niu Di-lân, cùng với các công ty đầu tư.

Chương trình PSH được triển khai vào tháng Tư năm 2012 và sẽ diễn ra trong tổng cộng 6 năm để thương mại hóa công nghệ mới trong ngành công nghiệp khai thác thủy sản của nước này.

Phương pháp đánh bắt cá hoang dã mới là kết quả của mười năm nghiên cứu. Nó sẽ cách mạng hóa phương pháp đánh cá công nghiệp truyền thống được thực hiện tại thời điểm hiện nay bởi vì nó sẽ nhắm mục tiêu vào các loài cụ thể và kích cỡ cụ thể, tăng cường sự bảo vệ cho các loài có kích cỡ nhỏ hơn, không phải mục tiêu đánh bắt có thể thoải mái thoát ra ngoài thông qua “các cổng thoát hiểm”.

“Về vấn đề chọn lọc, chúng tôi thiết kế tất cả mọi thứ để đảm bảo các loài phi mục tiêu được thoát ra càng nhanh càng tốt ở độ sâu – thậm chí chúng tôi không muốn chúng nhìn ánh sáng ban ngày”, Jerrett nói. Ông cho biết thêm rằng, mục tiêu chính của chương trình là hệ thống mới không làm tổn hại đến cá đánh bắt. “Một trong những mục tiêu là để đảm bảo rằng bất kỳ động vật nào được đưa lên bề mặt, nếu chúng ta không thể loại nó ra dưới nước, sẽ được thả trở lại biển mà không có tổn hại gì”.

Greg Johansson Sanford tin rằng công nghệ mới này chỉ là sự khởi đầu. Ông lạc quan rằng nó sẽ dẫn đến những thay đổi trong các thiết kế và cách bố trí tàu cũng như trong cách bốc dỡ cá của các công ty và phân phối cho người tiêu dùng.

Carl Carrington, người đứng đầu Aotearoa Fisheries, cho rằng phát hiện này là tin tốt cho sự phát triển bền vững, thúc đẩy thành tích của Niu Di-lân và tăng cường sự tiếp cận cho những người tiêu dùng có ý thức về phát triển bền vững của đất nước, cải thiện hương vị và chất lượng sản phẩm cũng như có giá trị tốt với sự tăng trưởng.

CHT – theo Fis

Nguồn: Bộ NN&PTNT

Posted on

Hệ thống chiếu sáng dẫn dụ cá trên tàu lưới chụp

BỘ ĐÈN QA_L 2000W

Đèn bue led SBL01-2000

THÔNG SỐ KỸ THUẬT

  • Công suất thực : 10*225w
  • Điện áp vào :85-265VAC
  • Dòng Ra DC :35 A
  • Áp ra DC :66VDC cách điện
  • Làm mát : nước mặn : 0.5m3/h ,áp suất 5 m.
  • Kích thước: 1200 x250x150 (nguồn điện Dc riêng)
  • Chỉ số bảo vệ: IP67
  • Trong lượng: 20kg
  • Quang thông 60 000lm
  • Tương đương (theo lượng ánh sáng màu xanh ) với đèn metalhalide 1000w : 10 bóng
  • Đặc điểm khác : Bộ nguồn có Lọc nhiễu (EMI) ,có PFC (điều chỉnh hệ số công suất)
  • Công suất bộ nguồn tùy theo số lượng đèn .
  • Tự động ổn áp đầu ra và các bảo vệ quá dòng ,quá nhiệt ,quá áp . Vỏ bộ nguồn composite
  • Lắp dặt và tư vấn thiết kế theo yêu cầu :
  • TÍNH NĂNG TIẾT KIỆM ĐIỆN:
  • Để dẫn dụ cá độ sáng chỉ cần 0.1 đến 100lux,nhưng độ rộng phạm vi chiếu sáng cần rất xa bởi vậy rất cần tới khả năng tán xạ ánh sáng ,khi không có có khả năng treo đèn trên cao. Đèn led màu xanh cho ta khả năng tán xạ trong môi trường không khí và đi rất xa trong nước biển gấp 30-40 lần ánh sáng các màu khác có trong phổ của đèn siu (metalhalide).Nhờ đó khả năng dẫn dụ cá rất cao khi chỉ cần phát ánh sáng màu phù hợp ,không cần phát ra lượng ánh sáng quá lớn tập trung trong phạm vi nhỏ lân cận tàu cá .Kết quả là rất tiết kiệm chi phí dầu cho chiếu sáng dẫn dụ cá.
  • THAM KHẢO SO SÁNH CÁC CHỈ TIÊU .
  • HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG DẪN DỤ CÁ  :
NỘI DUNG HT ĐÈN MAETAL HALIDE (I) HT  ĐÈN LED (II) Đơn vị ĐÁNH GIÁ ƯU ĐIỂM PHƯƠNG ÁN II
I- THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Tổng số đèn 100*1000w 4*2250w
Tổng công suất 100 9 kw Tiêu thu điện giảm 90%
Khả năng chiếu xa trong biển 1 1.6 Lần
Diện tích thu hút cá 1 2.5
Khả năng ổn áp 200v +-240 150v-265 VAC Chịu dao động điện áp lớn hơn
Tần số: 45-55 40-60 hz Chịu dao động tần số lớn hơn
Năng lượng ánh sáng xuống 50 6.2 kw
Năng lượng màu tác dụng 2.5 6.2 kw  
Tổng công suất nguồn cấp 120 10 Kw  
Máy phát điện 200 15 CV  
Tổng lượng dòng 500 280 A Tiết kiệm dây dẫn
Tuổi thọ đèn 10000 50 000 h Gấp PII 5 lần PI
Tia tử ngoại 7.5% 0   Không ảnh hưởng sức khỏe LĐ
Tiêu chẩn bảo vệ 0 IP68   Không thấm nước
II-KHÁI TOÁN HIỆU QUẢ        
Đầu tư đèn 250 000 000 400 000 000 dvn  
Đầu tư máy Phát 150 000 000 15 000000 Dvn  
Đầu tư dây dẫn 25 000 000 12000 000 Dvn  
Tổng đầu tư ban đầu 425 000 000 427 000 000 Dvn  
Chi phí thay đèn bảo hành/năm 80 000 000  10 000 000 dvn  
Chi phí nhiên liệu /năm 40 000 3 300 lit 200l/đêm*200n/năm
Thành tiền dầu +nhớt 1000 000 000 100 000 000 dvn  
Trọng lượng toàn hệ thống >2.5 <0.1 Tấn Tiết kiệm tải trọng tàu
Trọng lượng dầu cho chuyến đi 10 ngày 1.6t 0.16 Tấn Tiết kiệm tải trọng tàu
Năng suất cùng mật độ cá 1 2-6 Lần Khảo nghiệm thực tếlà quan trọng nhất